Ruby – The built-in data types

Cùng tìm hiểu những kiểu dữ liệu dựng sẵn trong ngôn ngữ lập trình Ruby.

Numbers

Đúng theo nghĩa đen, Numbers là kiểu dữ liệu để định nghĩa một con số.

Một vài phép toán đơn giản với những con số.

Strings

Strings là kiểu dữ liệu văn bản. Cụ thể hơn, nó diễn tả dữ liệu là một danh sách các ký tự được sắp xếp theo trật tự nhất định và được bao bọc bởi dấu nháy đơn hoặc nháy kép.

Nối 2 hay nhiều chuỗi bằng toán tử cộng “+” hoặc phép nhân với một số nguyên.

irb(main):015:0> “foot” + “ball”
=> “football”
irb(main):016:0> “the” + ” language ” + “Ruby”
=> “the language Ruby”
irb(main):017:0> “Ruby” * 3
=> “RubyRubyRuby”

Một số phương thức cơ bản và hay dùng của một đối tượng chuỗi.

True/False and Nil

true/false diễn tả kết quả của một mệnh đề là đúng/sai.

Theo tôi hiểu, nil giống như giá trị null trong những ngôn ngữ lập trình như Java, C#, PHP,… Có nghĩa là nothing – không có gì.

Symbols

Symbols thường được dùng thay cho Strings trong một số trường hợp như tên hằng, hàm, module hay key trong một đối tượng hash. Vì trong Ruby, string có thể thay đổi, còn symbol thì không. Hiểu một cách đơn giản thì symbol là string dạng bất biến và có rất nhiều cách sử dụng hay so với string.

Arrays

Arrays – mảng là kiểu dữ liệu mô tả một danh sách các phần tử được sắp xếp theo một trật tự nhất định và được đánh chỉ mục bắt đầu từ 0 và tăng dần.

irb(main):038:0> [1, 2, 3] # an integer array
=> [1, 2, 3]
irb(main):039:0> [“a string”, 1, true, 3, false] # a complex array
=> [“a string”, 1, true, 3, false]

Lấy giá trị của một phần tử trong mảng bằng chỉ mục.

irb(main):041:0> words = [“one”, “two”, “three”]
=> [“one”, “two”, “three”]
irb(main):042:0> puts words[0]
one
=> nil
irb(main):043:0> puts words[1]
two
=> nil
irb(main):044:0> puts words[2]
three
=> nil

Thêm một phần tử mới vào mảng.

irb(main):045:0> words = [“one”, “two”, “three”]
=> [“one”, “two”, “three”]
irb(main):046:0> words << “four” => [“one”, “two”, “three”, “four”]

Thiết lập/thay đổi giá trị tại một chỉ mục

irb(main):047:0> words = [“one”, “two”, “three”]
=> [“one”, “two”, “three”]
irb(main):048:0> words[2] = “three is 3”
=> “three is 3”
irb(main):049:0> words
=> [“one”, “two”, “three is 3”]

Hashes

Hashes định nghĩa một danh sách các phần tử mà mỗi phần tử được lưu trữ và truy xuất thông qua 1 khóa nhất định. Nó giống như từ điển khi mà mỗi khóa chỉ ánh xạ đến một giá trị duy nhất. Cá nhân tôi thấy nó gần giống như kiểu dữ liệu JSON đang phổ biến hiện nay.

Thiết lập/thay đổi giá trị bằng khóa.

Lời kết

Trên đây, tôi đã điểm qua những đặc điểm cơ bản nhất của kiểu dữ liệu nguyên thủy trong ngôn ngữ lập trình Ruby. Theo cảm nhận cá nhân, tôi thấy Ruby có kiểu dữ liệu nguyên thủy khá dễ hiểu và thao tác.

Chúc các bạn học tập và làm việc vui vẻ!

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *